Thượng tọa Phước Minh vãng sanh lưu xá lợi

Thứ bảy - 04/01/2014 09:49 - Đã xem: 2288

Thượng tọa Phước Minh vãng sanh lưu xá lợi

Thượng tọa Thích Phước Minh, thế danh là Trần Ngọc Tỷ, sinh năm 1915 tại làng Mỹ Thạnh Trung, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Năm 17 tuổi, Thượng tọa đến chùa Rạch Rừng thuộc xã Hòa Bình, quận Tam Bình xin quy y Tam Bảo với Hòa thượng Thích An Sơn (thường gọi là Sư ông núi Tượng).

Cũng trong năm này, Thượng Tọa phát tâm xuất gia nhưng Cha mẹ không cho đi, vì trong gia đình chỉ duy nhất Thượng tọa là con trai nên ông bà cụ  muốn Thầy lập gia đình để nối dõi Tông đường và tiếp nối giữ gìn gia nghiệp của Cha Mẹ để lại, phụng thờ Tổ tiên. Vì thế Thầy phải vâng lời, không dám cãi lại Cha Mẹ. Hơn 10 năm sau, Thượng Tọa cùng gia đình  dời về Cần Thơ.


Ý chí xuất gia cầu đạo giải thoát vẫn không quên, nên vào năm 59 tuổi (1973), Thượng Tọa đến chùa Phước Châu (thị xã Vĩnh Long) cầu Hòa Thượng Hoàn Phú thế phát xuất gia được Bổn sư ban cho pháp danh Phước Minh và thọ giới Sa Di trong năm này. Năm sau (1974)  trở về chùa Phước Hậu (Trà Ôn) tu học với Thầy Bổn sư và giữ chức vụ Thư ký chùa.

Đến năm (1975), được Hòa Thượng Bổn sư cho đăng đàn thọ Tỳ Kheo Bồ Tát giới tại Tổ đình Ấn Quang (Sài Gòn). Năm (1976), Thượng Tọa lên chùa Huệ Nghiêm (An Dưỡng Địa) tại Sài Gòn đảnh lễ cầu pháp với Hòa Thượng Thích Bửu Huệ tu tập theo pháp môn Tịnh Độ, chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương.

Thầy rất siêng năng công quả và tinh tấn tu hành, chân thật cầu giải thoát nên Hòa Thượng Bổn sư cử làm phó Trụ trì Tổ đình Phước Hậu và cho pháp hiệu Hoàn Tịnh. Phía ngoài vườn chùa có lập một ngôi tịnh thất, Thượng tọa thường nhập thất niệm Phật, khi thì 7 ngày, 21 ngày, lúc 49 ngày hoặc 3 tháng.

Đầu năm 2003 (Quý Mùi) Thượng tọa thường hay đau yếu, đệ tử là Sư cô Trí Thanh (Trụ trì chùa Phước Hưng) thường đưa Thượng tọa qua Cần Thơ để khám bệnh và điều trị. Khoảng tháng 08 (Â.L), Thượng tọa bệnh và nói với Sư cô Trí Thiện: "May đồ cho Thầy kỳ này thôi. Sau khỏi may nữa!".

Đến khuya ngày 20 tháng 10 (Â.L) trở bệnh. Sáng 21 tháng 10 chuyển lên bệnh viện Đa Khoa Cần Thơ cấp cứu vì Thầy bị hôn mê. Đến trưa ngày 22 tháng 10, xin xuất viện đưa về Tổ đình Phước Hậu.

Ở trên xe chư Tăng Ni và Phật tử niệm Phật và trợ niệm cho Thượng tọa và đôi lúc thấy Thượng tọa khẽ mỉm cười. Khi về đến chùa Phước Hậu vẫn tiếp tục trợ niệm cầu nguyện, lúc ấy Thượng Tọa bỗng nhiên niệm ra tiếng "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT". Chỉ một câu rồi im lặng niệm thầm. Lúc còn khỏe, Thượng tọa thường dạy "Phải niệm Phật cho thật rành rẽ, rõ ràng từng chữ từng câu".

Đại chúng vẫn trợ niệm cho đến trưa ngày 24 tháng 10 âm lịch năm Quý Mùi, vào 11 giờ 5 phút (tức đầu giờ Ngọ) nhằm ngày 17/11/ 2003, Thượng tọa an tường vãng sanh trong tiếng niệm hồng danh Phật A Di Đà của đại chúng. Hưởng thọ 89 tuổi đời, hạ lạp 28 tuổi đạo.
 

Xá lợi Thượng tọa Thích Phước Minh
(Hộp sọ đầu và hơn 200 viên xá lợi của Thượng Toạ Thích Phước Minh)

Tang lễ của Thượng tọa được cử hành trong 2 ngày 24 và 25 tháng 10 (ÂL), đến 7 giờ sáng ngày 26 là lễ di quan đưa kim quan của cố Thượng Tọa đến lò hỏa táng chùa Phật Học, Cái Răng, thành phố Cần Thơ để hỏa thiêu.

7 giờ sáng ngày 27/10 Â.L, môn đồ pháp quyến thu nhặt linh cốt, tro xương để phụng thờ. Thượng tọa đã lưu lại một hộp xương sọ đầu và trên 200 viên xá lợi.

Đến tuần 49 ngày, toàn bộ linh cốt và sọ đầu được an vị nhập vào bảo tháp tại chùa Phước Hậu vào ngày 13 tháng Chạp âm lịch, năm Quý Mùi. Riêng phần xá lợi, môn đồ pháp quyến gìn giữ phụng thờ.


Sống chết, thạnh suy lý vẫn thường.
Tuổi cao, gần Phật bận chi thương.
                                                


- Sưu tập -

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ
Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?
Danh mục
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập81
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm77
  • Hôm nay21,339
  • Tháng hiện tại280,836
  • Tổng lượt truy cập22,011,787
Flag Counter
simple hit counter

Tiếng Việt English

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây