Bài Ca Túi Da

Thứ ba - 05/05/2015 15:29 - Đã xem: 1297

Bài Ca Túi Da

Hòa Thượng Hư Vân (1849-1959), viết bài ca này vào năm 19 tuổi để lại cho hai người vợ và bỏ nhà ra đi xuất gia tu đạo. Về sau, do cảm động về Đạo đức của ngài, hai người vợ này đều đã xuất gia trở thành Tỳ kheo ni.  

Hòa Thượng Hư Vân (1849-1959).
 Thời thơ ấu Ngài cư ngụ tại tỉnh Hồ Nam, huyện Tương Lương. Cha tên Ngọc Đường, mẹ tên Nhan Thị. Năm đầu đời nhà Thanh, cha làm quan tại tỉnh Phú Kiến. Năm Mậu Tuất và Kỷ Hợi làm quan tại châu Vĩnh Xuân.

Cha mẹ đã ngoài bốn mươi mà chưa có mụn con. Mẹ ra ngoài thành nơi chùa Quán Âm mà cầu tự. Bà thấy nóc chùa bị tàn phá hư hoại, lại thấy cầu Đông Quan nơi thành không ai sửa chữa nên phát nguyện trùng hưng kiến lập lại. Đêm nọ, cả cha lẫn mẹ đều nằm mơ thấy một vị mặc áo xanh, tóc dài, trên đỉnh đầu có tượng Bồ Tát Quán Thế Ấm, cưỡi hổ mà đến, nhảy lên trên giường. Mẹ kinh sợ, giật mình thức dậy, liền thọ thai.
Tháng bảy ngày hai mươi, giờ dần, ngài ra đời tại phủ Tuyền Châu. Lúc ấy thân được bao bọc bởi một bọc thịt. Mẹ thấy vậy, kinh hãi vô cùng, nghĩ từ đây về sau chắc sẽ không còn hy vọng sanh con được nữa, nên buồn uất khí mà chết. Hôm sau, có ông lão bán thuốc đến cắt bọc thịt, bồng ngài ra. Kể từ đó được bà kế mẫu, Vương Thị, chăm sóc nuôi nấng.

Hòa Thượng Hư Vân viết bài ca này vào năm 19 tuổi để lại cho hai người vợ và bỏ nhà ra đi xuất gia tu đạo. Về sau, do cảm động về Đạo đức của ngài, hai người vợ này đều cũng đã xuất gia.

Bài ca túi da (1), túi da hề !
Trước thưở kiếp không (2), chẳng sắc danh, (3)
Quá Phật Uy-Âm thành ngăn ngại.(4)
Ba trăm sáu chục dây gân kết,
Tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông.
Phân tam tài, hợp tứ đại,
Đội trời đạp đất bao khí thế!
Biết nhân quả, biện thời thế,
Quán sát cổ kim chỗ tối tăm.
Bởi gốc mê lầm chấp hư huyễn,
Lụy cha mẹ, luyến vợ con,
Theo vô minh kết thành oan nghiệt.
 
Bài ca túi da, túi da hề!
Uống rượu ăn thịt, loạn tâm tánh.
Chạy theo dục lạc, thân bại hoại.
Làm quan ỷ thế hiếp đáp dân
Nghề buôn khôn khéo thành gian dối
Phú quý kiêu sa được mấy hồi.
Nghèo khó hiểm nguy phút chốc tới.
Phân biệt ta người, thiếu bình đẳng,
Hại vật, sinh linh, coi cỏ rác.
Nghĩ suy thường nhật tham, sân, si
Đường tà chìm nổi thành tự hoại
Giết hại, trộm cắp, tà dâm, dối
Nghiệp ác mặc tình, tùy sở thích
Ngạo mạn thân hữu phân yêu ghét.
Rủa trời đất, khinh miệt quỷ thần
Chuyện sanh tử mê mờ tai hại
Ra khỏi thân trâu, vào thai ngựa
Đổi hình hài nào ai thương xót
Chẳng tu phước, tạo nhiều bất thiện
Sống cuồng, chết uổng, mãi trôi lăn
Ba nẻo ác, này địa ngục,
Này quỷ, này thú, khổ tột cùng.
Thánh hiền xưa, từng nhắc nhở
Sớm tối chuông ngân động tâm can.
Ác thiện, quả báo phân định rõ,
Cảnh tỉnh thế gian lìa ngũ trược.
 
Bài ca túi da, túi da hề!
Đã mang hình chẳng vì hình lụy,
Coi đời huyễn, giả danh, đối đãi
Sớm hồi tâm an nhiên tự tại
Chẳng ham danh, chẳng ham lợi
Lìa gia đình, bỏ đời dục lạc
Dứt mọi tình luyến ái vợ con
Vào cửa không, theo Phật giới,
Tìm minh sư, cầu khẩu quyết,
Tham thiền nhập định siêu ba cõi.
Âm thanh, sắc tướng, tắt mọi duyên
Thôi hết đua tranh đời thế tục.
Hàng phục sáu căn bặt nghĩ suy.
Chẳng ta, chẳng người, chẳng phiền não.
Khác người trần than đời chóng vánh.
Áo cốt che thân, ăn khi đói.
Tạm nương nhờ, gìn giữ sắc thân.
Bỏ tài sản, khinh thân mạng
Như đàm, dãi, nhổ không do dự.
Giữ tịnh giới không sơ sót,
Ngọc trắng băng trong, bốn oai nghi.
Mắng không giận, đánh không hận.
Nhẫn điều khó nhẫn chẳng bận lòng
Mặc nắng mưa, không gián đoạn
Thủy chung một niệm A-Di-Đà.
Không hôn trầm, không tán loạn
Xanh như tùng bá giữa trời đông.
Chẳng nghi Phật, không nghi pháp
Thấy, nghe, biết tận điều chân thực.
Xuyên thủng bìa, thấu da trâu (5)
Một tâm trong sáng hiện tròn đầy.
Ấy về nguồn! Ấy là giải thoát!
Ấy là thiên chơn, gốc nguyên sơ.
Chẳng phải trống không, chẳng không có.
Thấu lộ linh cơ bao mầu nhiệm.
Đạt cảnh giới đó chẳng oan uổng.
Xong rồi! Nhân gieo nay đã trổ
Mới xứng hùng danh đại trượng phu
Đủ mười danh hiệu Thầy Vạn Đời.
 
Ô hay ! Cũng xác này hư huyễn
Mười phương thế giới hiện toàn thân.
Thiện ác rõ bày không lầm lẫn.
Cớ sao y giả chẳng nương chân?
Từ thái cực, phân lưỡng nghi
Tâm linh hoạt bát, chuyển càn khôn.
Kiếp xưa tu nay thành vua chúa.
Giầu có sang hèn bởi túc nhân
Đã có sanh, ắt là có tử.
Than thở chi, ai nấy đều hay.
Tiền cho vợ, lộc cho con
Tham sân làm hỏng đời mai hậu.
Đuổi theo danh, cầu được lợi
Uổng phí thời gian mười chín năm.
Muôn ngàn vạn thứ chuyện trái ý,
Đọa đầy người thế lắm gian truân.
Cảnh già tới, mắt mờ tóc bạc
Uổng một đời điều thiện chẳng hay.
Ngày lại tháng, tháng lại năm
Luyến tiếc chẳng nguôi năm tháng qua.
Dám hỏi người đời ai sống mãi?
Chi bằng nương tựa bóng từ vân.
Hoặc tại danh sơn, nơi thắng địa
Tiêu dao tự tại bước nhàn du.
Vô thường chớp nhoáng chi đáng kể,
Nghiền ngẫm đôi câu được dặn dò,
Niệm Di-Đà, dứt sanh tử.
Khinh khoái trong lòng chẳng giống ai.
Học tham thiền, vững tông chỉ
Tinh thần vô hạn chỉ bấy nhiêu.
Trà thanh, cơm đạm, tâm an tịnh
Một niềm vui pháp trọn đêm ngày.
Chẳng ta, chẳng người, chẳng nầy nọ
Thân, oán, khen, chê, coi bình đẳng.
Không chướng ngại, không xấu hổ.
Phật Tổ một lòng há chuyện chơi?
Thế tôn cắt ái lên núi tuyết,
Quán Âm lìa nhà làm con Phật.
Đời Nghiêu Thuấn có Hứa, Sào
Nghe chuyện nhường ngôi vội rửa tai.
Trương Tử Phòng, Lưu Thành Ý
Cũng bỏ công danh du sơn thủy.
Huống nay mạt kiếp, nhiều gian khổ
Thấy người xưa sao không tỉnh ngộ?
Theo vô minh, tạo thập ác.
Phí tâm cơ rước về tai họa.
Nào nạn đao binh, nào ôn dịch,
Nạn đói chưa hết đến chiến tranh.
Càng quái đản càng nhiều yêu nghiệt.
Động đất, sóng thần, núi lở sụt.
Rủi lâm cảnh huống biết làm sao!
Kiếp xưa tạo ác là như vậy.
Chẳng cho xứng ý lạc đường mê
Gặp khi hoạn nạn khởi tâm lành.
 
Khởi tâm lành,
Bước vào cửa không, lễ Pháp Vương
Sám hối nghiệp tội tăng thêm phước.
Bái minh sư, cầu ấn chứng
Thoát vòng sanh tử minh tâm tánh,
Khám phá vô thường lại là thường
Đường tu, trong pháp lại có pháp.
Hiền thánh khuyên đời để chữ lại
Ba tạng kinh điển tôn quý thay!
Mấy lời tâm huyết, phơi gan ruột.
Dám mong người thế giữ đường ngay.
Xin đừng coi nhẹ, nên ghi nhớ!
Hết lòng tu, kiến tánh có ngày.
Tu gấp gáp, năng tinh tấn
Gieo giống bồ-đề là chánh nhân.
Sanh về chín phẩm, Phật chứng giám
Di-Đà tiếp dẫn đến Tây phương.
Túi da bỏ lại, siêu thượng thừa.
Bài ca túi da! Xin lắng nghe! 
 
Chú thích:
1.Thân người được ví như cái túi da.
2. Kiếp không: Đây là một trong 4 kiếp mà thế giới trải qua. Đó là các kiếp thành, kiếp trụ, kiếp hoại, kiếp không, rồi một chu kỳ khác, thành-trụ-hoại-không lại bắt đầu. Đây là thời kỳ thế giới chưa hình thành, vạn vật chưa sanh ra.
3. Chẳng có hình sắc, chẳng có tên gọi.
4. Phật Uy-Âm : Uy-Âm Pháp Vương là tên chung của vô số lượng vị Phật lần lượt xuất hiện theo chu kỳ các đại kiếp. Mỗi lần Phật Uy Âm trụ thì kiếp đó không có các khổ nạn, như nghèo khó, đói kém, ôn dịch, thiên tai v.v.
5. “Xuyên thủng bìa” ngụ ý đi sâu vào kinh tạng, hiểu trọn nghĩa kinh; “thấu da trâu” dụ cho nghĩa phá thủng màn vô minh, chứng được chân lý.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ
Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?
Danh mục
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập67
  • Máy chủ tìm kiếm6
  • Khách viếng thăm61
  • Hôm nay8,817
  • Tháng hiện tại408,744
  • Tổng lượt truy cập21,614,763
Flag Counter
simple hit counter

Tiếng Việt English

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây