Tiểu sử Hoà Thượng Thiền Tâm (Phần 2)

Thứ hai - 31/03/2014 00:38 - Đã xem: 2697
Thân Phụ của Ngài vì nhớ con mà Tâm cảm bài thơ thương nhớ và hy vọng gặp lại Ngài .
Tiểu sử Hoà Thượng Thiền Tâm (Phần 2)

Con đi áo để lại nhà ,

Mỗi ngày nhìn- ngắm lòng già quặn đau .

Buồn trong ngõ trước vườn sau ,

Nhựt- Thăng giờ ở nơi nào hỡi con ?

Sớm hôm lòng dạ héo hon ,

Chờ mong tin nhạn mỏi mòn nhạn ơi .

Sầu nầy biết thuở nào vơi !

                        Nguyễn Văn Hương .

( Chờ đợi tin con buồn khóc nhớ thương )

Đêm nay sao khiến tôi buồn quá ,

Trước ngọn đèn chong có một mình.

Rỉ rả ve sầu vang tiếng gọi ,

Tỉ tê giọng dế suốt đêm thanh.

Ngoài hè gió thổi nghe xào xạt ,

Trong trướng

không an giấc mộng lành.

Trằn trọc thâu đêm không nhắm mắt ,

Biết ai mà tỏ nỗi lòng mình.

 

Lòng mình, mình biết chỉ mình hay ,

Tâm sự nầy bày tỏ với ai ?

Lặng lẽ mà nghe lòng thổn- thức ,

Âm thầm chịu đựng mấy ai hay

Nhớ con dấn bước hà phương tá ,

Để khổ lòng già chịu đắng- cay.

Sầu nọ , nỗi kia thêm chất-ngất ,

Khôn ngăn giọt lụy suốt đêm dài .

 

Đêm dài thao thức nỗi sầu quanh ,

Thơ thẩn , thẩn thơ dưới bức mành .

Nghĩ nhớ trẻ thơ lòng đứt đoạn ,

Bao giờ gặp lại hỡi cao- xanh ?

Thân- yếu , tuổi già thêm quạnh- vắng ,

Một mình sầu- khổ suốt năm canh .

Con hỡi vì sao đành vội sớm ?

Lá mới xanh con nở tách cành !

 

Tách cành đành bỏ Mẹ cùng Cha ,

Canh vắng đường khuya khổ lắm mà .

Vì sợ tử- sanh con lỗi đạo ?

Hướng về Phật- Tự lướt xông- pha .

Bỏ quê , bỏ xứ , bỏ mẹ cha ,

Lìa hết thương- yêu , dứt ruột rà .

Cuối lạy Phật đà xin đoái-tưởng ,

Độ người qua khổ-hải trầm kha.

(Nguyễn văn Hương. Thân phụ Ngài ).

 

Và rồi một ngày kia.. gần hai năm trời sau đó, cánh nhạn chờ mong từ nơi phương trời xa xăm nào đó , bỗng dưng bay trở lại và hai cụ thân sinh  nhận được một bức thư của Ngài gởi về thăm viếng , tạ lỗi , cùng khuyên nhắc thân phụ và mẫu từ với gia đình nên tu và niệm phật để thân- tâm được an lạc .có kèm theo một bài thơ như sau :

Tụ- tán xưa nay lý vẫn thường ,

Mất còn , tan- hợp bận chi thương.

Bình tâm nghĩ lại đừng bi lụy ,

Năm tháng lạnh lùng bạc tóc sương .

Nếu có nhớ con xin niệm- Phật ,

Phát lòng quy- hướng chốn Tây Phương .

Nguyền cho Phụ Mẫu tâm thường nhớ ,

Cực- Lạc là quê chỗ náo nương.

                                    (Thích Thiền Tâm) .

Thân phụ Hòa thượng mỗi ngày đều xem qua bài thơ ấy, cứ mỗi lần xem là thân phụ Ngài ngậm- ngùi nhỏ-lệ, uống trà cho tan buồn nguôi nhớ để vơi sầu, và y theo lời khuyên của Ngài thường xuyên năng niệm Phật phát lòng quy hướng chốn Tây Phương . thân phụ Ngài có viết và để lai bài thơ cuối cùng, căn dặn gia đình chừng nào Ngài về thì trao lại .sau đó thân phụ Ngài qua đời .khoảng cuối năm 1954 .Ngài hay tin về chịu tang Cha lúc đó gia đình có trao lai cho Ngài bài thơ cuối cùng của thân phụ viết lúc cuối như sau :

Chín năm cách- biệt đứa con yêu ,

Đếm bước vườn sau có những chiều.

Ngắm áo con thơ lòng nức- nở ,

Lệ sầu tuôn đổ biết bao nhiêu !

Lắm khi khóc lặng trong niềm nhớ,

Gan ruột dường như bị đốt thiêu.

Con ở phương- xa giờ có biết ?

Phút cuối Cha nghe dạ nhớ nhiều

Nguyễn Văn Hương . ( phút cuối đời tôi )

Lo hậu sự cho thân phụ xong, Ngài vội lìa chốn quê nhà qui Phật Tự, mà trong lòng buồn nghĩ nhớ về Huyên đường. Là một người hiểu đạo lý thâm sâu .Ngài luôn quán xét cái khổ sanh tử là trọng đại.

 Nhưng vơi tình đời thì xưa nay vẫn thế , có hợp, phải có tan, có vui tất phải có buồn, có sanh tất phải có tử, nên Ngài đã dõng mãnh cắt ái ly gia ra nhà thế tục ,để hoàn thành Phật Đạo. xưa nơi đây ấm lòng tình phụ tử con đường làng năm xưa vẫn không có gì thay đổi, chỉ thấy vô thường và vạn vật đỗi thay! cũng con đường nầy năm xưa đã từng đưa lối cho ta đi cầu đạo xuất gia. rời chốn tại gia ràng buộc đầy dẫy khổ trần xa lìa tục lụy ,ta bỏ cuộc chơi nơi chốn hồng trần để tâm đường giải thoát .

Từ nay và giờ đây ta giã từ  ngươi nhé ! bạn đường ơi ?

Thôi chào ngươi nhé bạn đường ơi ,

Trần thế nay ta bỏ cuộc chơi .

Một bước chân đi không trở lại ,

Phật Tự từ đây định chốn nơi .

Phai bóng người thân , phai tục- lụy ,

Dặm ngàn quê củ tách xa khơi .

Đem thân nương nép tòa sen thắm ,

Rực ánh hồng quang tỏa khắp nơi .

                        (Nhựt Thăng Tu Sĩ ).

Ta bà có phải cõi nầy không

Phiền não đua nhau chất chập chồng

Lo ngược, lo xuôi,lo lẫn quẫn

Sợ già, sợ chết, sợ long long..

Được thua, âu cũng ngày ba bửa

Hơn thiệt, rồi ra giá mấy đồng

Hởi khách mến mê, mau tỉnh ngộ

Lên thuyền Bát Nhã lướt sang sông.                 

Ngài xuống xe đếm bước độc hành trên con đường mòn nhỏ, để về chốn thiền môn . Trong di cảo có bốn câu thi sau đây :

Mỗi bước mỗi gần thêm cảnh tịnh ,

Xa lià tăm- tối lánh vô minh .

Trần duyên rày dứt, người quen mất,

Tạ chốn bụi hồng đáo Ngọc Kinh .

.(Nhựt Thăng Tu- sĩ 1945 Ất Dậu)

            NỖI LÒNG TU SĨ:

Lạy nầy tạ hết những niềm thương,

Phụ Mẫu đệ huynh khắp mọi đường.

Lạy thứ hai,tay nâng dâng trả,

Tình nhà, nợ nước, nghĩa quân vương.

Lạy thứ ba con xin kính lễ,

Ơn dầy sanh dưỡng mấy mươi sương.

Lạy thứ tư,từ nay vĩnh biệt,

Chôn đời, theo Phật chốn Đoài phương.

 

Họ Nguyễn Nhựt Thăng giờ đã chết,

Sau cổng thiền môn đóng kín rồi.

Từ nay tên gọi THÍCH THIỀN TÂM,

Chôn vùi dĩ vãng chốn xa xăm.

Vậy nên phải:

Dứt nguồn sanh tử,

Cạn bể dục si.

Độ thoát mình người,

Đồng lên Giác ngạn.

Muôn đời siêu đọa,

Duy ở kiếp nầy.

Không bê trể được.

Nguồn tin: Bao Giác Ngộ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ
Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?
Danh mục
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập71
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm68
  • Hôm nay9,557
  • Tháng hiện tại442,948
  • Tổng lượt truy cập21,648,967
Flag Counter
simple hit counter

Tiếng Việt English

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây